Nghệ điều trị viêm loét dạ dày

Do có hoạt tính chống viêm cấp tính và viêm mạn tính, nghệ được dùng làm thuốc điều trị trong các bệnh như viêm loét dạ dày, viêm gan, chữa mụn nhọt...

Nghệ có hoạt tính chống viêm cấp tính và viêm mạn tính trong các mô hình gây phù bàn chân và gây u hạt thực nghiệm trên chuột cống trắng, đồng thời có tác dụng gây thu teo tuyến ức chuột cống đực non. Đó là những tác dụng điển hình của thuốc chống viêm. Tinh dầu nghệ có hoạt tính chống viêm khớp thực nghiệm. Curcumin và các dẫn chất là những hoạt chất của nghệ. Cơ chế chống viêm có thể do tác dụng loại trừ các gốc tự do có vai trò quan trọng trong quá trình viêm.

Nghệ có hoạt tính chống loét dạ dày và chống rối loạn tiêu hóa. Cao chiết từ nghệ cho thỏ uống làm giảm tiết dịch vị, tăng lượng chất nhầy trong dịch vị, bảo vệ niêm mạc dạ dày tá tràng, chống thương tổn loét gây bởi thắt môn vị và bởi stress do cầm giữ, nhịn đói và do tác dụng phụ của một số thuốc. Nghệ kích thích sản sinh chất nhầy ở thành dạ dày. Curcumin ức chế sự tạo khí trong ruột.

Tinh dầu nghệ làm tăng tiết mật và kích thích co cơ túi mật trong thử nghiệm trên chó. Cao chiết từ nghệ có tác dụng dự phòng chống tổn thương gan gây thực nghiệm trên động vật.

Tinh dầu và một số thành hóa học của nghệ có tác dụng ức chế nhiều loài vi khuẩn và nấm gây bệnh trong đó có trực khuẩn lao, các trực khuẩn lỵ, phế cầu khuẩn, trực khuẩn thương hàn, trực khuẩn coli, nấm candida albicans. Cao chiết từ nghệ có tác dụng ức chế lỵ amip. Dịch chiết từ lá nghệ diệt ấu trùng muỗi.

Cho bệnh nhân uống bột nghệ mỗi lần 500 g, ngày 4 lần trong 7 ngày, đã có hiệu quả tốt đối với loạn tiêu hóa acid, loạn tiêu hóa đầy hơi và loạn tiêu hóa mất trương lực. Một nghiên cứu lâm sàng trên bệnh nhân viêm khớp dạng thấp cho thấy, curcumin có tác dụng cải thiện đối với sự cứng đơ khớp buổi sáng, sưng khớp và về thời gian đi bộ.

Viêm kim truật, bào chế từ nghệ và bạch truật, đã được dùng điều trị loét dạ dày, tá tràng trên lâm sàng với kết quả làm giảm khá nhanh các cơn đau, làm giảm độ acid dịch vị, các triệu chứng rối loạn tiêu hóa đều khỏi, nhưng chưa thấy rõ sự thay đổi hình ảnh chụp X-quang của vết loét. Viên hương nghệ bào chế từ nghệ vàng, mai mực, hương phụ, cà độc dược, áp dụng cho bệnh nhân viêm loét dạ dày, có tác dụng làm hết đau thượng vị, hết ợ chua, ợ hơi, hết cơn đau về đêm.

Cao dán nhọt bào chế từ nghệ và một số dược liệu khác, áp dụng điều trị cho 30 bệnh nhân bị mụn nhọt, đã đạt tỷ lệ khỏi và đỡ là 84%. Việc điều trị đơn giản, không phải rạch, chích, không cần dùng kháng sinh, bông băng.

Nghệ còn được dùng để điều trị trong các trường hợp bị đòn ngã tổn thương ứ máu, viêm loét dạ dày, ung nhọt, ghẻ lở, phong thấp, tay chân đau nhức, vàng da. Nó cũng là thuốc chữa bế kinh, tích huyết tử cung, sau khi sinh máu xấu không ra, kết hoàn cục gây đau bụng. Ngày uống 2-6 g, chia làm 2-3 lần, dưới dạng bột hoặc thuốc sắc.

Dùng ngoài nghệ tươi giã nát, vắt lấy nước để bôi lên ung nhọt, lở loét, các mụn mới khỏi để đỡ sẹo. Nghệ còn được dùng ở một số nước khác trị ho, lao phổi.

Các bài thuốc có nghệ

Chữa viêm loét dạ dày tá tràng, đau vùng dạ dày, ợ hơi, ợ chua: Nghệ 10 g, trần bì 12 g, khổ sâm 12 g, hương phụ 10 g, bồ công anh 10 g, ngải cứu 8 g. Dùng dạng thuốc bột. Ngày uống 10-20 g, chia 2 lần.

Nghệ 12 g, đỗ đen sao 20 g, sâm bố chính 12 g, hoài sơn 12 g, thổ phục linh 10 g, trần bì 10 g, mật ong 10 g. Dạng thuốc hoàn, ngày uống 10-20 g.

Chữa viêm gan virus cấp tính: Nghệ 12 g, nhân trần, bồ công anh, rễ cỏ tranh, mỗi vị 40 g, chi tử 16 g, đại hoàng sao 12 g, hoàng liên 8 g. Sắc uống ngày một thang.

Chữa viêm gan, suy gan, vàng da: Nghệ 5 g, bồ bồ 10 g, dành dành 5 g, râu ngô 5 g. Uống ngày một thang, bào chế thành dạng siro hoặc cốm.

Nghệ 2 g, rau má 4 g, núc nác 3 g, nhân trần hoặc bồ bồ 3 g, sài hồ nam (lức), dành dánh, nhọ nồi, hậu phác nam (vối rừng), mỗi vị 2 g.

Nghệ, dành dành, hậu phác được tán bột mịn, các vị khác nấu cao nước đặc, làm hoàn. Ngày uống 10 g.

Chữa thổ huyết, chảy máu cam: Nghệ tán nhỏ, ngày uống 4-6 g, chiêu với nước.

Chữa sỏi mật, làm mòn sỏi: Kim tiền thảo 40 g, nghệ, vân mộc hương, nhân trần, chỉ xác, đại hoàng mỗi vị 12 g. Sắc uống ngày 1 thang.

Phòng và chữa tích huyết tử cung sau khi sinh: Nghệ 1 củ, nướng nhai ăn, hoặc giã nát nấu xôi nếp ăn.

Chữa đau kinh: Nghệ 12 g, ích mẫu 20 g, sinh địa 16 g, huyền sâm 16 g, địa cốt bì 12 g, đào nhân, hương phụ, thanh bì mỗi vị 8 g. Sắc uống trong ngày.

Nghệ 8 g, ích mẫu 1 6g, đào nhân, xuyên khung, ngưu tất, hương phụ mỗi vị 8 g. Sắc uống trong ngày.

Cao dán nhọt: Nghệ 60 g, củ ráy 80 g, dầu vừng 80 g, nhựa thông 40 g, sáp ong 40 g. Củ ráy gọt sạch vỏ, cùng giã với nghệ cho thật nhỏ, cho vào nấu nhừ với nhựa thông, dầu vừng và sáp ong. Lọc, để nguội, phết lên giấy bản, dán vào mụn nhọt.

 




Nguồn: SK&ĐS

 

 

Tư vấn dùng nghệ

Dưỡng da với củ nghệ Dưỡng da với củ nghệ Đã có nhiều nghiên cứu khẳng định công dụng của nghệ...
Những bài thuốc tốt từ củ nghệ Những bài thuốc tốt từ củ nghệ Nhưng có một số phương thuốc từ nghệ rất đơn giản mà...
Chữa bỏng bằng củ nghệ tươi Chữa bỏng bằng củ nghệ tươi Nghệ vị cay, đắng, tính ấm, có tác dụng hành khí, chỉ...
Cách làm mặt nạ nghệ dưỡng da Cách làm mặt nạ nghệ dưỡng da Với những công dụng này, nghệ được sử dụng để chăm...

Dược liệu quý

Hoa đăng tiêu - Vị thuốc quý Hoa đăng tiêu - Vị thuốc quý Thuốc chống thụ thai: Hoa đăng tiêu 15g, xuyên khung 15g, ngưu tất...
Xuyên bối mẫu – Dược thảo quý trị ho Xuyên bối mẫu – Dược thảo quý trị ho Thân rễ của cây này có các củ bện xoắn như con ốc, bám...
Đinh lăng - Cây thuốc tăng lực Đinh lăng - Cây thuốc tăng lực Đinh lăng có tên khoa học là Polyscias fruticosa (L...) Harms,...
Cây sả - Sát khuẩn, chống viêm Cây sả - Sát khuẩn, chống viêm Sả được trồng khá phổ biến ở nông thôn, nhất là trong các...

Thống kê truy cập

Hiện có 1 khách Trực tuyến