Tác dụng chữa bệnh của nghệ

Nghệ hay nghệ vàng – Curcuma longa L. (C. domestica Valeton), thuộc họ gừng - Zingiberaceae. Cây thảo cao khoảng 1 m. Thân rễ to, hình củ tròn, có các nhánh hình trụ hay hình thoi, thịt màu vàng da cam. Thân mang lá mọc hàng năm. Lá có cuống dài, hình trái xoan mũi mác, dài 25 - 45 cm, rộng tới 15 - 18 cm, nhẵn cả hai mặt, màu lục nhạt, cuống lá có bẹ. Hoa hợp thành những bông hình trụ, cánh hoa và cánh môi đều màu vàng, các lá bắc màu lục, những cái ở ngọn màu tím. Quả nang chia ba ô.

Ở nước ta, nghệ mọc hoang và được trồng khắp nơi, mỗi gia đình nông thôn thường trồng ít nhiều để dùng.

Chế biến làm thực phẩm: người ta dùng củ nghệ làm gia vị trong ăn uống, chủ yếu lấy màu vàng gây cảm giác ngon và béo. Đem phơi và nghiền ra, nghệ là thành phần của bột cà ri. Nghệ là loại gia vị khử mùi tanh của cá, ốc, lươn.

Sử dụng làm thuốc: nghệ cho những vị thuốc thông dụng trong y học dân tộc. Thân rễ của nghệ gọi là khương hoàng. Trong củ nghệ có nhựa, curcumin (0,76 - 1,1%), tinh dầu (trên 1,5%), chất béo, tinh bột. Curcumin và tinh dầu có tính chất thông mật, lợi mật; ở nồng độ thấp, tinh dầu còn có tính kháng khuẩn.

Nghệ được sử dụng làm thuốc giúp cho tiêu hóa, chữa các bệnh về mật và gan, phụ nữ sinh đẻ xong bị đau bụng. Nghệ có tác dụng chống loét dạ dày, làm giảm tiết dịch vị, làm giảm độ acid của dịch vị và có tác dụng chống viêm (ta thường dùng thuốc viên nghệ, kim truật, melamin). Nghệ dùng ngoài, bôi lên mụn nhọt, vết thương mới khỏi làm cho chóng lên da non và tránh làm sẹo. Nghệ là loại thuốc trị loét tốt (dùng dưới dạng nước ép trong một thời gian dài).

Trong y học dân tộc, người ta dùng nghệ rất nhiều. Để phòng bệnh sau khi sinh đẻ, người ta cho sản phụ ăn một củ nghệ nướng, uống với một ít rượu. Sau khi đẻ, nếu máu xông lên tim, người ta dùng nghệ đốt tồn tính, tán bột cho uống 8 g mỗi ngày với giấm. Trẻ em lên cơn suyễn, đờm kéo lên tắc nghẹt cổ, khó thở, dùng một gram nghệ giã nát, hòa với đồng tiện vắt lấy nước cốt uống.

Ở nước ta, còn có một số loài nghệ khác như nghệ vàng (Curcuma xanthorrhiza Roxb.) dùng như nghệ, nghệ bột (Curcuma pierreana Gagnep.) trồng lấy bột ở củ. Còn có hai loài nghệ trắng (Curcuma aromatica Salisb.) và nghệ xanh, nghệ tím (C. zedoaria (Berg.) Roscoe) đều được sử dụng làm thuốc.


Nguồn: bacsi.com

 

Tư vấn dùng nghệ

Dưỡng da với củ nghệ Dưỡng da với củ nghệ Đã có nhiều nghiên cứu khẳng định công dụng của nghệ...
Những bài thuốc tốt từ củ nghệ Những bài thuốc tốt từ củ nghệ Nhưng có một số phương thuốc từ nghệ rất đơn giản mà...
Chữa bỏng bằng củ nghệ tươi Chữa bỏng bằng củ nghệ tươi Nghệ vị cay, đắng, tính ấm, có tác dụng hành khí, chỉ...
Cách làm mặt nạ nghệ dưỡng da Cách làm mặt nạ nghệ dưỡng da Với những công dụng này, nghệ được sử dụng để chăm...

Dược liệu quý

Hoa đăng tiêu - Vị thuốc quý Hoa đăng tiêu - Vị thuốc quý Thuốc chống thụ thai: Hoa đăng tiêu 15g, xuyên khung 15g, ngưu tất...
Xuyên bối mẫu – Dược thảo quý trị ho Xuyên bối mẫu – Dược thảo quý trị ho Thân rễ của cây này có các củ bện xoắn như con ốc, bám...
Đinh lăng - Cây thuốc tăng lực Đinh lăng - Cây thuốc tăng lực Đinh lăng có tên khoa học là Polyscias fruticosa (L...) Harms,...
Cây sả - Sát khuẩn, chống viêm Cây sả - Sát khuẩn, chống viêm Sả được trồng khá phổ biến ở nông thôn, nhất là trong các...

Thống kê truy cập

Hiện có 3 khách Trực tuyến